Ứng dụng công nghệ thông tin trong logistics tại Việt Nam còn khiêm tốn
Lên đầu trang

Ứng dụng công nghệ thông tin trong logistics tại Việt Nam còn khiêm tốn

thegioitiepthi.vn Công nghệ thông tin (CNTT) được xem như huyết mạch kết nối các thành phần của toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động logistics của doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện còn ở mức rất khiêm tốn, nhất là công nghệ, thiết bị phức tạp, đòi hỏi trình độ cao ít được các DN áp dụng.

Sáng nay (9/11), Sở Công Thương Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải tổ chức Hội thảo Ứng dụng công nghệ 4.0 trong hoạt động logistics.

Theo số liệu của Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), hiện Việt Nam có khoảng 4.000 DN hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam. Quy mô về vốn khoảng 40-42 tỷ USD/năm, chiếm gần 21% GDP của cả nước.

Logistics là một phần không thể thiếu trong việc phát huy tiềm năng của thị trường thương mại điện tử. Tốc độ tăng trưởng logistics của Việt Nam trong năm qua tăng trưởng trung bình 14-16%. Có nhiều DN tham gia hoạt động logistics nhưng cơ bản vẫn thực hiện theo phương thức nhỏ và thiếu tính kết nối. Quy mô và tốc độ tăng trưởng, cũng như cơ hội tiềm năng của thị trường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập như thể chế, tư duy quản trị, vốn.

Định hướng phát triển thị trường số lượng đơn hàng logistics tăng 45%, quy mô thị trường tăng 78% giai đoạn 2015-2020

Theo các chuyên gia, hiện nay, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 có các công nghệ ưu việt, mang tính đột phá về trí tuệ nhân tạo, rô bốt, không gian mạng, kết nối vạn vật, dịch vụ internets… Từ đó tạo ra các kết quả điển hình của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 được coi như “logistics thông minh”, “smart logistics” hay “logistics 4.0” tác động toàn diện tới con người, quy trình và công nghệ ứng dụng trong logistics và chuỗi cung ứng. Đây là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa CNTT.

CNTT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các DN cung cấp dịch vụ logistics, được xem như huyết mạch kết nối các thành phần của toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics. Theo đó, giúp cải thiện tình hình kiểm soát và lên kế hoạch dễ dàng hơn 70,1%, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 70,1%; giảm thiệt lỗi do con người gây ra 67%, giảm chi phí nhân lực trong quản lý là 61,9%; cải thiện quan hệ khách hàng là 60,8% và giảm thiểu chi phí là 57,7%.

Theo số liệu khảo sát  của nhóm nghiên cứu gồm: VLA, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương); Trường Đại học Công đoàn, Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, năm 2018, đánh dấu những bước tiến rất đang ghi nhận về việc ứng dụng công nghệ trong logistics.

Nếu như năm 2017, khái niệm logistics 4.0 còn khá mơ hồ thì năm nay nó đã được nhắc điến nhiều trên các phương tiện thông tin và truyền thông trong giới chuyên môn, thể hiện rõ dấu hiệu của một làn sóng mới. Cạnh đó, các công ty công nghệ đang xâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống dịch vụ, kể cả với tư cách nhà cung cấp giải pháp và trong một số trường hợp, họ trở thành nhà cung cấp dịch vụ.

Tuy nhiên, trong khi việc sử dụng các công nghệ thiết bị đơn giản như máy tính xách tay, thiết bị định vị toàn cầu, máy đọc mã vạch 1D, nền tảng hỗ trợ kết nối thông tin dịch vụ logistics trực tuyến được các DN logistics được sử dụng phổ biến lên đến 99-100% thì các công nghệ, thiết bị phức tạp, đòi hỏi trình độ cao ít được các DN sử dụng. Cụ thể, điện thoại thông minh tham gia trực tiếp trong quá trình làm việc chỉ chiếm 30%, hệ thống định dạng bằng sóng vô tuyến chỉ chiếm 10%; hệ thống định dạng bằng sóng vô tuyến chiếm 10%, hệ thống phân phối cuộc gọi tự động dưới 5%; thiết bị nhận diện giọng nói dưới 5%.

Đáng chú ý, rất nhiều các chỉ số chỉ chiếm dưới 1% như: nền tảng hộ trợ kết nối thông tin dịch vụ logistics trực tuyến; rô bốt phục vụ nhặt/soạn hàng; rô bốt nâng chuyển hàng trong kho, rô bốt cất trữ và lấy hàng tự động, rô bốt phục vụ thực hiện đơn hàng, các thiết bị điện tử đầu cuối kết nối với khách hàng, ứng dụng công nghệ blockchain…

Ứng dụng thương mại điện tử trong dịch vụ logistics tại Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hội nhập. Các mức độ dịch vụ khách hàng trong thương mại điện tử như thời gian giao hàng, phương thức giao hàng, địa điểm nhận hàng, hình thức thanh toán, được phéo đổi/trả hàng. Các yêu cầu dịch vụ tiêu biểu như vận chuyển xuyên biên giới (CBEC), có nhiều đánh giá tích cực cho hình thức này khi mà cơ hội tăng trưởng của thị trường CBEC mang đến vào khoảng 25%/năm là không thể tìm được ở các thị trường bán lẻ khác. Các nhà bán lẻ trực tuyến đang đẩy mạnh kinh doanh các mặt hàng CBEC ở mức 10-15%.

Trong khi đó, giao hàng chặng cuối - nhanh và rẻ cũng đang là vấn đề đặt ra. Nhìn bề ngoài thì giao hàng chặng cuối cùng có vẻ không quan trọng lắm nhưng thực tế nó có thể chiếm 25% tổng chi phí của một lô hàng. Ứng dụng CNTT trong các DN dịch vụ logistics tại Việt Nam sẽ nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics và chuỗi cung ứng, tăng tính cạnh tranh cao nhất.

Mục tiêu mà chính phủ đặt ra cho ngành logistics đến năm 2025 như sau: tỷ trọng đóng góp vào GDP 8-10%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ 15-20%; tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ 50-60%; chi phí logistics so với GDP 16-20%.

Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn cho sự phát triển của ngành dịch vụ logistics. Thông qua vai trò và ứng dụng CNTT đối với DN logistics trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay cho thấy những lợi ích thiết thực mà CNTT đối với hoạt động logistics và chuỗi cung ứng thông qua thương mại điện tử. Giải pháp được đưa ra đó là nâng cao nhận thức về vai trò CNTT. Cạnh đó, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào hạ tầng CNTT như: cải thiện và xây dựng mới hệ thống EDI (chuyển giao, số hóa, tăng bảo mật); đầu tư phần mềm mới cho hoạt động logistics (RFID, Barode, đám mây logistics); thu hút đầu tư vào hạ tầng CNTT theo hình thức xã hội hóa hiện nay.

LÊ HẬU
Ý kiến bạn đọc

Bất động sản

Doanh nghiệp - Doanh nhân

Tài chính - Chứng khoán