Gặp 'cha đẻ' của chiếc máy làm đá tuyết từ nước biển hỗ trợ khai thác thủy sản
Lên đầu trang

Gặp 'cha đẻ' của chiếc máy làm đá tuyết từ nước biển hỗ trợ khai thác thủy sản

thegioitiepthi.vn Đề tài “Máy làm đá tuyết từ nước biển phục vụ bảo quản hải sản đánh bắt xa bờ” của Ths. Lê Văn Luân và các cộng sự Trung tâm phát triển công nghệ cao - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa được nghiệm thu xuất sắc, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực thủy sản.

Ths. Lê Văn Luân - "cha đẻ" của chiếc máy làm đá tuyết từ nước biển (Ảnh: H.G)

Đi tìm “chìa khóa” giúp ngư dân bám biển

Ths. Lê Văn Luân là nhà khoa học trẻ đầy hoài bão. Nói về chiếc máy làm đá tuyết mà anh và các cộng sự đã chế tạo, ánh mắt của nhà khoa học trẻ lấp lánh đầy hạnh phúc. Anh bảo, chiếc máy này ra đời hỗ trợ rất nhiều cho bà con ngư dân, đặc biệt là giúp bà con giảm chi phí vận chuyển, hải sản được bảo quản tốt nhất mà không bị hư hại, tổn thất sau khai thác đánh bắt xa bờ.

Ý tưởng chế tạo ra thiết bị này xuất phát từ thực tế hải sản bị thất thoát trong quá trình khai thác thủy sản của ngư dân Việt Nam. Các nhà khoa học đã tìm hiểu căn nguyên vấn đề để có được câu trả lời. Từ đó các anh đã nghiên cứu, chế tạo ra thiết bị cung cấp đá nước mặn trên tàu cá, và đây là chìa khóa bảo quản chất lượng thủy - hải sản trong quá trình đánh bắt xa bờ. 

“Với các nước trong khu vực thì người ta áp dụng thiết bị này cả rồi, tuy nhiên đặc thù của Việt Nam là tàu cá rất nhỏ, việc đưa thiết bị làm đá lên tàu là cả một vấn đề. Cách đây nhiều năm, sản phẩm công nghệ này được Bộ Khoa học Công nghệ rất quan tâm và đã có một vài đề tài khoa học nghiên cứu tính khả thi của đá tuyết trong bảo quản hải sản. Tuy nhiên mô hình của nước ngoài khi đưa vào Việt Nam lại không được như kỳ vọng, rất khó áp dụng. Do vậy, bài toán đặt ra với chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo ra sản phẩm. Mà ở đây phải chế tạo ra thiết bị phù hợp với quy trình sử dụng của ngư dân trong nước...” – Th.s Luân tâm sự.

Khi bắt tay tạo ra sản phẩm này, các nhà khoa học trẻ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ đã đến rất nhiều viện nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này để nghe những ý kiến đóng góp. Nhiều chuyên gia cho rằng họ rất quan tâm đến thiết bị đó nhưng  không dám bắt tay vào làm, bởi họ biết nếu làm sẽ gặp vô vàn khó khăn. “Nhưng chúng tôi chấp nhận những khó khăn, thử thách. Vì chúng tôi biết các ngư dân đang gặp vấn đề gì và mong muốn được đóng góp chút sức lực để hỗ trợ những người ngư dân bám biển...” – Ths. Luân cho biết.

Nhiều tháng trời các nhà khoa học lênh đênh trên biển ăn, ngủ với ngư dân, tìm hiểu họ cần gì để áp dụng thực tiễn. Thậm chí có vấn đề rất đơn giản như chiếc tàu đó hoạt động thế nào trong tháng, ngư dân có di chuyển thường xuyên không, thời điểm nào trong tháng thì họ đi đánh cá… Tất cả những chi tiết dù rất nhỏ cũng đều được các nhà khoa học ghi lại để chế tạo ra sản phẩm phù hợp…

Máy làm đá tuyết từ nước biển 100% “made in Việt Nam”

Chia sẻ về những khó khăn trong thời gian triển khai đề tài, Ths. Luân cho biết, vấn đề thử nghiệm là bài toán hóc búa nhất đối với các nhà khoa học. “Sản phẩm này được sử dụng trong môi trường rất khắc nghiệt, đặc biệt khi các ngư dân xác định không mang theo đá để ướp cá thì có nghĩa thiết bị phải chạy ổn định. Vì nếu xảy ra sự cố thì cả giá trị của chuyến đi biển hàng tỉ đồng sẽ bị mất trắng…” – Ths. Luân nói.

Hơn 18 tháng ròng, các nhà khoa học lênh đênh trên những con thuyền rất nhỏ để ra biển thử nghiệm thiết bị. Trước khi ra biển lớn, thiết bị đã được chạy thử nghiệm trong xưởng ròng rã cả năm trời. Cứ như vậy nhiều tháng vừa chạy thử ngoài cảng biển và vừa mang về xưởng hiệu chỉnh… Một năm rưỡi sau đó, khi tất cả đã ổn định, máy làm đá tuyết từ nước biển của các nhà khoa học trẻ mới chính thức đưa lên tàu.

Khi thiết kế, chế tạo thiết bị này, bài toán lớn mà Ths. Luân cùng các cộng sự đặt ra là người ngư dân sẽ xử lý ra sao khi máy móc gặp sự cố. Bởi thực tế các tàu cá của ngư dân rất nhỏ, khi lênh đênh trên biển sẽ không có thợ kỹ thuật hay phương tiện máy móc hỗ trợ. Vì vậy ngay từ đầu máy đã được thiết kế dạng module, rất thuận tiện cho việc sửa chữa, thay thế ngay trên tàu (nếu xảy ra sự cố có thể rút ra cắm vào ổ khác). Ngoài ra, thiết bị này có hệ thống cảnh báo lỗi, nếu nhiệt độ cao, mất nước… thì máy sẽ kêu và tự động ngắt để cảnh báo…

Cũng theo Ths. Luân, thiết bị này có giá trị ứng dụng rất lớn. Cụ thể, việc sản xuất đá tuyết từ nước biển sẽ giúp giảm chi phí nhiên liệu vận chuyển đá từ đất liền, đồng thời làm tăng chất lượng sản phẩm, giảm thiểu lượng sản phẩm bị hư hỏng. Khi sử dụng thiết bị này sẽ giúp ngư dân khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước biển có sẵn, không làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước ngọt đang dần cạn kiệt, góp phần bảo vệ môi trường. Và quan trọng nhất, đây là sản phẩm công nghệ cao nhưng có giá thành cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập trên thị trường, giúp các ngư dân đều có thể ứng dụng thành tựu khoa học trong đánh bắt xa bờ.

Được biết, mỗi thiết bị làm đá tuyết từ nước biển “made in Việt Nam” đạt năng suất 5 tấn đá/24h có giá dự kiến thấp hơn 450 triệu đồng. Hiện thị trường Việt Nam mới chỉ nhập một vài mẫu của Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc để thử nghiệm. Với sản phẩm nhập khẩu từ Ấn Độ có sản lượng tương tự sản phẩm của Việt Nam đang được một công ty trong TP. Hồ Chí Minh chào bán với giá khoảng 550 triệu đồng.

Th.s Luân cho biết, hiện nhóm nghiên cứu của anh đã chuẩn bị sẵn sàng để sản xuất hàng loạt sản phẩm có năng suất lớn hơn. Đồng thời các anh cũng đang chờ sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong năm 2019 để đưa sản phẩm này ra thị trường.

Ông Ngô Bình Phương, Giám đốc Doanh nghiệp khai thác thủy sản ở Hải Phòng – một trong những đơn vị đang sử dụng thiết bị này chia sẻ, trước đây mỗi tàu phải vận chuyển 50-60 tấn đá ra biển để bảo quản hải sản. Từ khi có máy sản xuất đá ngay trên tàu, chi phí đã giảm được 30%.

“Hiện bên tôi có khoảng 6 chiếc tàu. Mỗi chuyến khi đi biển phải xay khoảng 30 triệu đồng tiền đá mang sẵn, sẽ hao hụt khoảng 30% (tương đương khoảng 10 triệu đồng). Với 6 chiếc tàu thì mỗi ngày công ty tôi mất khoảng 60 triệu đồng. Khi áp dụng công nghệ này, các chi phí của công ty giảm đáng kể. Và quan trọng là hải sản sau khi khai thác được bảo quản rất tốt, chất lượng được nâng lên…” – ông Phương cho biết.

Với đòi hỏi khắt khe về chất lượng hải sản của các thị trường khó tính, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu như Nhật Bản, EU, thì việc ứng dụng máy sản xuất đá tuyết để bảo quản hải sản đang mở ra nhiều triển vọng trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản trong nước. Và các nhà khoa học mong muốn sản phẩm của họ sẽ đến được với nhiều ngư dân hơn nữa, để những người ngư dân thấy được lợi ích của việc áp dụng công nghệ mới trong việc đánh bắt hải sản...

HƯƠNG GIANG
Ý kiến bạn đọc

Nhịp đập thị trường

Sản phẩm - Dịch vụ

Nông nghiệp